PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN TRẺ MẦM NON HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC

Thứ sáu - 19/01/2018 08:40

PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN TRẺ MẦM NON HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC

PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN TRẺ MẦM NON HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC
1.     1.     Lớp mẫu giáo bé
1.1  Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt rõ nét về: Chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớn của 2 đối tượng
Trẻ biết sử dụng đúng từ “ Dài hơn, ngắn hơn ”; “ Cao hơn – thấp hơn ” “ To hơn –nhỏ hơn ”
Để chuẩn bị cho giờ học đạt kết quả, trước đó trong sinh hoạt hàng ngày cô giáo cần cho trẻ được làm quen với các đồ vật có kích thước khác nhau. Ví dụ, con gấu to hơn con thỏ, bạn này cao hơn bạn kia, dây nơ này dài hơn dây nơ kia v.v…
Trong các giờ học dạy trẻ nhận biết bằng trực giác sự khác biệt theo từng chiều ( dài – rộng  - cao ) giữa 2 đối tượng dược tiến hành theo trình tự sau:
·         Tạo các tình huống có vấn đề, để trẻ có cơ hội tiếp xúc và so sánh kích thước của hai đối tượng
Ví dụ: Khi dạy trẻ so sánh chiều dài của hai đối tượng, cô dùng hai sợi dây: dây xanh không buộc vừa cổ tay cháu, dây hồng buộc vừa cổ tay cháu.
·         Cô đặt câu hỏi nhằm hướng sự chú ý của trẻ vào “ kích thước ” cần so sánh của vật.
Ví dụ: Vì sao dây xanh không buộc vừa  cổ tay cháu còn dây hồng buộc vừa cổ tay cháu ? Trẻ phát hiện ra vì dây xanh ngắn hơn còn dây hồng dài hơn.
·         Cô so sánh các kích thước của vật cho trẻ xem bằng kỹ năng so sánh và dựa trên vật thật:
Ví dụ: Cô cầm 2 sợi dây sao cho một đầu trùng nhau, lấy tay vuốt thẳng. Cô chỉ cho trẻ thấy dây hồng có phần thừa ra nên dài hơn.
·         Cô yêu cầu trẻ diễn đạt sự khác  biệt về kích thước đó bằng lời.
Ví dụ: Cho trẻ làm quen với các từ dài hơn – ngắn hơn ( Dây hồng dài hơn, dây xanh ngắn hơn ) v.v..,
·         Cô luyện cho trẻ biết sử dụng ngôn ngữ biểu thị kích thước và so sánh kích thước, sửa cho trẻ biết dùng đúng các từ chỉ sự khác biệt về kích thước như to hơn – nhỏ hơn, cao hơn thấp hơn , dài hơn – ngắn hơn, rộng hơn  - hẹp hơn v.v..
Yêu cầu:
Trẻ so sánh được sự khác nhau về kích thước của hai đối tượng với sự chênh lệch lớn bằng thị giác.
Sử dụng đúng các từ: “ dài hơn – ngắn hơn ”, “ rộng hơn – hẹp hơn ”, “ To hơn –nhỏ hơn ” trong các tình huống cụ thể.
 Ngoài giờ học, trong các  hoạt động khác cô cho trẻ luyện tập, nhận biết sự khác biệt về kích thước và diễn đạt sự khác biệt đó. Cô cho trẻ tạo nên các đồ vật có sự khác việt về kích thước trong các hoạt động tạo hình, tìm hiểu văn học, môi trường xung quanh v.v…
1.     2.     Lớp mẫu giáo nhỡ
2.1  Dạy trên giờ học
2.1.1. Dạy trẻ kĩ năng so sánh các biểu tượng về kích thước
Dạy trẻ so sánh chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớn của 2 -3 đối tượng bằng kỹ năng so sánh đặt cạnh nhau hoặc chồng lên nhau ( hoặc lồng vào nhau ).
Một số kỹ năng so sánh kích thước của 2 vật:
a)     Kỹ năng so sánh chiều dài
*Đặt cạnh nhau:
Đặt hai vật sát cạnh nhau theo chiều dài, sao cho một đầu thẳng hàng. Đối tượng nào có phần thừa ra, đối tượng đó dài hơn, đối tượng còn lại ngắn hơn.
Các đối tượng cần có chiều rộng bằng nhau để hướng sự chú ý của trẻ vào chiều dài, để trẻ không bị chi phối bởi chiều rộng.
*Đặt chồng lên nhau:
Đặt hai vật chồng lên nhau sao cho một đầu trùng nhau, vật nào có phần thừa ra, vật đó dài hơn. Vật còn lại ngắn hơn. Nếu cả hai vật không có phần nào thừa ra thì hai vật đó dài bằng nhau.
Với các vật nhỏ, mềm như dây len, dây nơ v.v… dùng một tay túm một đầu các đối tượng và điều chỉnh cho hai đối tượng song song với nhau.
Với cả hai loại vật liệu này, sau khi để một đầu trùng nhau, kiểm tra đầu còn lại, đối tượng nào có phần thừa ra đối tượng đó dài hơn, đối tượng còn lại ngắn hơn. Nếu cả hai không có phần thừa ra thì đối tượng đó dài bằng nhau.
b)    Kỹ năng so sánh chiều rộng của 2 vật
Đặt chồng hai vật lên nhau, sao cho một mép chiều dài của hai vật được đặt trùng lên nhau. Đối tượng nào có phần thừa ra, đối tượng đó rộng hơn, đối tượng còn lại ngắn hơn. Nếu chiều rộng cả hai đối tượng không có phần thauwf ra thì hai đối tượng đó rộng bằng nhau
c)     Kỹ năng so sánh chiều cao của 2 vặt:
*Đặt cạnh nhau.
Đặt 2 vật đứng trên cùng một mặt phẳng. Nếu đầu trên của hai đối tượng trùng ( hoặc ngang bằng nhau ) thì hai đối tượng cao bằng nhau. Nếu không bằng nhau thì đối tượng nào có phần thừa ra thì đối tượng cao hơn.
Kỹ năng so sánh độ lớn của hai vật
*Đối với hình phẳng: Đặt chồng 2 vật lên nhau, vật nào có phần thừa ra, vật đó to hơn, vật còn lại nhỏ hơn. Nếu 2 vật chồng khít lên nhau thì 2 vật to bằng nhau.
* Độ lớn cần so sánh ở đây là thể tích ( đối với khối không gian )
Nếu là khối rỗng thì lồng 2 khối vào với nhau ).
Nếu khối đặc, đặt 2 khối cạnh nhau cho trẻ dùng mắt để ước lượng, song các đồ vật để trẻ so sánh cần có sự chênh lệch về kích thước, để trẻ dễ dàng nhận thấy.
Độ chênh lệch của các đồ dùng:
Nếu dùng cho trẻ mẫu giáo thì độ chênh lệch phải lớn, còn với trẻ mẫu giáo nhớ và lớn thì độ chênh lệch không nhiều, bắt buộc trẻ phải dùng kỹ năng so sánh để so sánh.
2.1.2 Hình thức tổ chức dạy học
Trong mỗi phần so sánh về chiều dài, chiều cao, chiều rộng đều dạy trong 2 tiết:
Tiết 1: Dạy trẻ so sánh, nhận biết sự giống và khác nhau về: chiều dài hoặc chiều rộng hoặc chiều cao của hai đối tượng. Dạy trẻ hiểu và diễn đạt được mối quan hệ này.
*Phương pháp tiến hành như sau:
Phần 1: Ôn nhận biết sự khác biệt rõ nét về kích thước của hai đối tượng.
Cô tổ chức cho trẻ hoạt động, tạo ra tình huống giúp cho trẻ phát hiện ra sự khác biệt về kích thước, sau đó cô dùng kỹ năng so sánh để kiểm tra lại kết quả mà trẻ đã phát hiện ra ( không yêu cầu trẻ kiểm tra ) .
Phần 2: dạy trẻ kỹ năng so sánh để trẻ nhận ra sự giống và khác nhau về kích thước của hai đối tượng.
Cô hướng dẫn trẻ tìm ra hai đối tượng bằng nhau trong số ba đối tượng.
Hình thành kiến thức mới: “ bằng nhau ”.
Cô dạy trẻ cách so sánh hai đối tượng bằng kỹ năng so sánh đặt cạnh nhau hoặc chồng lên nhau.
Dùng ngôn ngữ để nêu cách làm và kết quả.
Cụ thể:
Trẻ vận dụng vốn kinh nghiệm của mình để so sánh tìm ra hai đối tượng bằng nhau trong ba đối tượng
Cô chỉnh sửa kỹ năng so sánh cho trẻ qua việc cùng trẻ kiểm tra kết quả làm của trẻ. Trẻ vận dụng kỹ năng vừa được học để tìm ra các đối tượng có sự khác nhau về kích thước và diễn đạt mối quan hệ này.
Ví dụ: ( thước vàng và thước đỏ dài bằng nhau ).
Phần 3: Luyện tập
Cô tổ chức các hoạt động vui chơi, cho trẻ tìm hai đối tượng, dùng kỹ năng so sánh để kiểm tra xem hai đối tượng đó bằng nhau hay khác nhau về kích thước. Trẻ biết diễn đạt được kết quả so sánh.
Có thể tích hợp bài giảng trong các hoạt động của tạo hình. Ví dụ, cho trẻ xây những ngôi nhà cao, nhà thấp, nhà to, nhà nhỏ. Tìm hiểu thế giới xung quanh v.v…
Tiết 2: Luyện tập kỹ năng so sánh kích thước ( chiều dài hoặc chiều cao hoặc chiều rộng ) của hai đối tượng để sắp thứ tự về kích thước của ba đối tượng theo chiều tăng đần hoặc giảm dần.
Phần 1: Củng cố kỹ năng so sánh kích thước hai đối tượng.
Cho trẻ tập luyện kỹ năng so sánh hai đối tượng khác nhau về kích thước,trẻ nhận biết và diễn đạt được mối quan hệ này,
Phần 2: hình thành kiến thức mới: “ hơn nhất – kém nhất ”.
-         Cô hướng dẫn trẻ dùng kỹ năng so sánh hai đối tượng để so  sánh kích thước của ba đối tượng theo từng cặp, giúp trẻ rút ra kết luận: “ có thể một đối tượng có kích thước hơn nhất so với hai đối tượng còn lại. ( Hình thành cho trẻ biểu tượng “ hơn nhất – kém nhất – kém hơn ” ).
-         Hướng dẫn cho trẻ biết dùng ngôn ngữ để diễn đạt các mối quan hệ về kích thước từ ba đối tượng trở lên.
Ví dụ: Dạy trẻ so sánh chiều dài của ba đối tượng, sắp thứ tự chiều dài theo chiều tăng dần.
Ví dụ 2: So sánh chiều cao của ba đối tượng, sắp thứ tự chiều cao theo giảm dần.
Yêu cầu: Trẻ biết cách so sánh trực tiếp theo từng chiều của hai đến ba đối tượng ( không thông qua vật đo ) để tìm ra các kết quả “ hơn – kém” hoặc “ hơn – nhất- kém nhất ”.
·         Dùng từ để diễn đạt hoạt động so sánh và kết quả so sánh.
·         Có khả năng ứng dụng các kiến thức đã học để so sánh các vật trong môi trường xung quanh.
Ngoài giờ học: Cho trẻ tạo nên các đối tượng có kích thước khác nhau trong các hoạt động vui chơi như : Xây dựng, tạo hình, làm quen với môi trường xung quanh. Cho trẻ chơi các trò chơi : “ thi nhảy xa ” “ thi ném đá ” v.v…
Ví dụ: Cô cho trẻ làm dây xúc xích để trang trí lớp, sau đó cho trẻ so sánh chiều dài của các dây xúc xích với nhau.
+ Cho trẻ trang trí cành đào, cành mai, cây quất bằng các dây giấy màu dài ngắn khác nhau
+ kể chuyện đọc thơ , câu đố về ngày tết , mùa xuân
+ Tập gói bánh chưng, bénh  tét. Cho trẻ so sánh chiều dài của những chiếc bánh tét mà chúng vừa gói được bằng kĩ năng so sánh đặt cạnh nhau hoặc chồng lên nhau
Tóm lại, cần tạo ra một bầu không khí học tập vui vẻ nhẹ nhàng, giup trẻ nắm được các kiến thức, kỹ năng và biết vận dụng bằng chính thực tiễn cuộc sống của mình.
1.     3.     Lớp mẫu giáo lớn
Nhiệm vụ của lớp mẫu giáo lớn là cô giáo dạy trẻ cách đo lường đơn giản, giúp cho trẻ biết cách đo kích thước của một vật, hiểu được mối quan hệ giữa thước đo và chiều dài của đối tượng, biết dùng kết quả đo để so sánh chiều dài của các đối tượng.
Dạy trẻ phép đo cần làm tuần tự, rõ ràng từng thao tác khi tiến hành đo. Việc dạy trẻ đo gồm các bước:
Chọn đơn vị đo: thường chọn một đối tượng mà chiều dài lớn hơn chiều còn lại, lấy chiều dài đó làm đơn vị đo. Ví dụ như: Chiều dài que tính, chiều dài miếng gỗ hình chữ nhật v.v… nhưng khi nói với trẻ cô không nên dùng từ “ đơn vị đo ” mà chỉ cần nói: Đô chiều dài băng giấy dài bằng mấy lần chiều dài miếng gỗ:
+Dạy trẻ cách đo tuần tự theo các bước:
-         Đặt dấu trái của vật đo trùng với một đầu của vật cần do, sao cho cạnh của vật đo sát với cạnh của vật cần đo, dùng phấn vạch sát vào đầu kia của vật để  đánh dấu, nhấc vật đó lên.
-         Đặt tiếp vật đo theo chiều cần đo, sao cho đầu trái của vật đo trùng với vạch đánh dấu, đánh dấu tiếp đầu kia và tiếp tục làm cho dến khi đo hết chiều cần đo.
+Nói kết quả đo:
Để nói kết quả đo, trẻ đếm số đoạn đã được vạch trên vật cần đo. Số đoạn đếm được chính là kết quả đo. Khi nói kết quả, cần nói đủ số đo và đơn vị đo. Ví dụ: “ chiều dài băng giấy bằng sáu lần chiều dài miếng gỗ ”.
*Luyện kỹ năng đo:
- Dùng cùng một đơn vị để đo các đối tượng  có kích thước bằng nhau để trẻ nhận thấy chúng có cùng một kết quả đo như nhau ( số đo giống nhau ).
- Dùng cùng một đơn vị để đo các đối tượng có kích thước khác nhau để trẻ nhận thấy chúng có kết quả đo ( số đo ) khác nhau. Vật nào dài hơn sẽ có kết quả đo lớn hơn và ngược lại.
- Cô cho trẻ đo các vật có đội dài khác nhau, trẻ nhận thấy kết quả đo sẽ phụ thuộc vào chiều dài của thước đo. Nếu thuosc đo ngắn thì số lần đo sẽn hiều hơn. Còn nếu dùng thước đo daifh ơn thì số lần đo sẽ ít hơn.
Bên cạnh việc tiếp tục cho trẻ kỹ năng đo bằng vật cụ thể chọn làm đơn vị đo, ngoài tiết học cô cho trẻ làm quen với việc đo các đối tượng bằng các vật đo khác nhau: Ví dụ: Dạy trẻ đo bằng cách sử dụng bước chân trẻ, hoặc gang tay v.v…. làm đơn vị đo.
Cô cho trẻ làm quen với việc đo thể tích. Ví dụ: Bình màu xanh đựng được 5 ca nước, bình mau đỏ đựng được 4 ca nước v.v…
3.1. Dạy trên giờ học: Dạy trong 4 tiết
* Tiết 1: Dạy trẻ nhận biết được mục đích của phép đo. Biểu diễn độ dài của kích thước một đối tượng qua độ dài của vật chọn làm đơn vị
Chủ điểm: Tết và mùa xuân.
Phương pháp tiến hành:
Phần 1: Ôn tập so sánh chiều dài của 3 băng giấy bằng kỹ năng so sánh mà trẻ đã được học.
Trẻ so sánh tìm ra băng giấy dài nhất, băng giấy ngắn nhất.
Phần 2: Biểu diễn chiều dài băng giấy qua chiều dài hình chữ nhật.
·         Cô hướng dẫn trẻ đặt lên tiếp các hình chữ nhật lên một băng giấy, xem chiều dài băng giấy xếp kín được bao nhiêu hình chữ nhật, chọn thẻ số tương ứng với số lượng hình chữ nhật đó.
Ví dụ cô hỏi trẻ: “ chiều dài băng giấy vàng bằng mấy lần chiều dài hình chữ nhật? ”. Trẻ trả lời “ bằng 7 lần ”, trẻ chọn thẻ số 7 đặt vào cạnh băng giấy vàng.
·         Làm tương tự với các băng giấy còn lại.
·         Cho trẻ so sánh các băng giấy với nhau xem bằng nào được xếp nhiều hình chữ nhật nhất? Bằng nào được xếp ít hình chữ nhật nhất? Từ đó cho trẻ rút ra kết luận: Băng giấy nào dài nhất? Băng giấy nào ngắn nhất?
Phần 3: Luyện tập
Có thể cho trẻ thi dán dây xúc xích trang trí lớp ngày tết, hướng dẫn trẻ dán xen kẽ các băng giấy màu sắc khác nhau. Sau đó xem trẻ nào dán được dây dài nhất, trẻ nào dán được dây ngắn nhất. Có thể cho trẻ đo chiều cao của cây nêu ngày tết, đo chiều dài của bánh tét v.v….
Phương pháp tiến hành:
Phần 1: Cho trẻ chơi trò chơi: “ Thi xem ai bật xa ”. Mỗi lần 2 trẻ chơi. Khi trẻ bật xong cần đếm xem trẻ đã bật được bao nhiêu viên gạch ( đơn vị dể đo là các viên gạch lát nền ) . Phát cho trẻ một thẻ số tương ứng với kết quả mà trẻ đạt được, để cuối cùng xem trẻ nào nhảy được xa nhất.
Phần 2: Dạy trẻ thao tác đo độ dài.
Dạy trẻ thao tác đo đơn giản bằng cách đặt liên tiếp các đơn vị đo trên đối tượng đo và kết quả đo bằng số lần đặt đơn vị đo đã sử dụng.
+ Cô chọn một đối tượng làm đơn vị đo ( ví dụ: thanh gỗ , que tính ) và giới thiệu cho trẻ.
+ Cô vừa làm vừa giải thích cho trẻ cách đo : “ tay trái của cô cầm thanh gỗ, tay phải của cô cầm phấn. Cô sẽ đo chiều dài của băng giấy từ trái sang phải . Dầu tiên cô đặt chiều dài của thước đo sát với một mép chiều dài băng giấy, đầu trái của thước đo trùng với đầu trái của băng giấy, sau đó cô dùng phấn vạch một vạch sát đầu phải  của thước đo để đánh dấu lần 1. Nhấc thước, đặt đầu trái của thước trùng vạch, đánh dấu lần 2…. Làm tiếp cho đến khi đo hết băng giấy.
Cho trẻ tập do chiều dài băng giấy, cô quan sát, hướng dẫn trẻ cách đặt thước đo để đo cho chính xác.
Phần 3: Luyện tập
Cho trẻ dùng thanh gỗ làm  thước đo, đo chiều dài, chiều rộng chiều cao của một cái bàn. Cho trẻ nói kết quả. Ví dụ “ chiều cao của bàn bằng 7 lần thước đo”.
3.1.3 Tiết 3 và 4
Luyện tập kỹ năng đo để hiểu mối quan hệ giữa chiều dài đối tượng với chiều dài thước đo và kết quả đo.
-         Cô cho trẻ thực hành đo nhiều đối tượng có kích thước bằng nhau với cùng một thước đo để trẻ nhận xét các đối tượng này đều có số đo giống nhau.
-         CÔ cho trẻ thực hành đo các đối tượng có độ dài khác nhau với cùng một thước đo để trẻ nhận xét các đối tượng này có số đo khác nhau. Vật nào hơn sẽ có kết quả đo lớn hơn.
-         Cô cho trẻ thực hành đo trên cùng một đối tượng với những đơn vị đo khác nhau để trẻ nhận thấy kết quả đo khác nhau. Như vậy kết quả đo phụ thuộc vào việc chọn đơn vị đo.
Cho trẻ thực hành đo trong các hoạt động hàng ngày, cho trẻ thực hành đo với các thước đo khác nhau như bước chân, gang tay v.v…thực hành đo chiều cao của bạn, chiều cao của cây, gắn nội dung giảng dạy với chủ điểm tết và mùa xuân. Cô có thể cho trẻ làm quen với việc đo thể tích, ví dụ dùng một cái ca đong nước đổ vào 2 bình, sau đó cho trẻ dựa trên kết quả đẻ so sánh độ lớn ( thể tích ) của 2 bình.


Bài viết: Xong rồi e. oke nhé 

Nguồn Zing BlogPHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN TRẺ MẦM NON HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC
1.     1.     Lớp mẫu giáo bé
1.1  Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt rõ nét về: Chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớn của 2 đối tượng
Trẻ biết sử dụng đúng từ “ Dài hơn, ngắn hơn ”; “ Cao hơn – thấp hơn ” “ To hơn –nhỏ hơn ”
Để chuẩn bị cho giờ học đạt kết quả, trước đó trong sinh hoạt hàng ngày cô giáo cần cho trẻ được làm quen với các đồ vật có kích thước khác nhau. Ví dụ, con gấu to hơn con thỏ, bạn này cao hơn bạn kia, dây nơ này dài hơn dây nơ kia v.v…
Trong các giờ học dạy trẻ nhận biết bằng trực giác sự khác biệt theo từng chiều ( dài – rộng  - cao ) giữa 2 đối tượng dược tiến hành theo trình tự sau:
·         Tạo các tình huống có vấn đề, để trẻ có cơ hội tiếp xúc và so sánh kích thước của hai đối tượng
Ví dụ: Khi dạy trẻ so sánh chiều dài của hai đối tượng, cô dùng hai sợi dây: dây xanh không buộc vừa cổ tay cháu, dây hồng buộc vừa cổ tay cháu.
·         Cô đặt câu hỏi nhằm hướng sự chú ý của trẻ vào “ kích thước ” cần so sánh của vật.
Ví dụ: Vì sao dây xanh không buộc vừa  cổ tay cháu còn dây hồng buộc vừa cổ tay cháu ? Trẻ phát hiện ra vì dây xanh ngắn hơn còn dây hồng dài hơn.
·         Cô so sánh các kích thước của vật cho trẻ xem bằng kỹ năng so sánh và dựa trên vật thật:
Ví dụ: Cô cầm 2 sợi dây sao cho một đầu trùng nhau, lấy tay vuốt thẳng. Cô chỉ cho trẻ thấy dây hồng có phần thừa ra nên dài hơn.
·         Cô yêu cầu trẻ diễn đạt sự khác  biệt về kích thước đó bằng lời.
Ví dụ: Cho trẻ làm quen với các từ dài hơn – ngắn hơn ( Dây hồng dài hơn, dây xanh ngắn hơn ) v.v..,
·         Cô luyện cho trẻ biết sử dụng ngôn ngữ biểu thị kích thước và so sánh kích thước, sửa cho trẻ biết dùng đúng các từ chỉ sự khác biệt về kích thước như to hơn – nhỏ hơn, cao hơn thấp hơn , dài hơn – ngắn hơn, rộng hơn  - hẹp hơn v.v..
Yêu cầu:
Trẻ so sánh được sự khác nhau về kích thước của hai đối tượng với sự chênh lệch lớn bằng thị giác.
Sử dụng đúng các từ: “ dài hơn – ngắn hơn ”, “ rộng hơn – hẹp hơn ”, “ To hơn –nhỏ hơn ” trong các tình huống cụ thể.
 Ngoài giờ học, trong các  hoạt động khác cô cho trẻ luyện tập, nhận biết sự khác biệt về kích thước và diễn đạt sự khác biệt đó. Cô cho trẻ tạo nên các đồ vật có sự khác việt về kích thước trong các hoạt động tạo hình, tìm hiểu văn học, môi trường xung quanh v.v…
1.     2.     Lớp mẫu giáo nhỡ
2.1  Dạy trên giờ học
2.1.1. Dạy trẻ kĩ năng so sánh các biểu tượng về kích thước
Dạy trẻ so sánh chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớn của 2 -3 đối tượng bằng kỹ năng so sánh đặt cạnh nhau hoặc chồng lên nhau ( hoặc lồng vào nhau ).
Một số kỹ năng so sánh kích thước của 2 vật:
a)     Kỹ năng so sánh chiều dài
*Đặt cạnh nhau:
Đặt hai vật sát cạnh nhau theo chiều dài, sao cho một đầu thẳng hàng. Đối tượng nào có phần thừa ra, đối tượng đó dài hơn, đối tượng còn lại ngắn hơn.
Các đối tượng cần có chiều rộng bằng nhau để hướng sự chú ý của trẻ vào chiều dài, để trẻ không bị chi phối bởi chiều rộng.
*Đặt chồng lên nhau:
Đặt hai vật chồng lên nhau sao cho một đầu trùng nhau, vật nào có phần thừa ra, vật đó dài hơn. Vật còn lại ngắn hơn. Nếu cả hai vật không có phần nào thừa ra thì hai vật đó dài bằng nhau.
Với các vật nhỏ, mềm như dây len, dây nơ v.v… dùng một tay túm một đầu các đối tượng và điều chỉnh cho hai đối tượng song song với nhau.
Với cả hai loại vật liệu này, sau khi để một đầu trùng nhau, kiểm tra đầu còn lại, đối tượng nào có phần thừa ra đối tượng đó dài hơn, đối tượng còn lại ngắn hơn. Nếu cả hai không có phần thừa ra thì đối tượng đó dài bằng nhau.
b)    Kỹ năng so sánh chiều rộng của 2 vật
Đặt chồng hai vật lên nhau, sao cho một mép chiều dài của hai vật được đặt trùng lên nhau. Đối tượng nào có phần thừa ra, đối tượng đó rộng hơn, đối tượng còn lại ngắn hơn. Nếu chiều rộng cả hai đối tượng không có phần thauwf ra thì hai đối tượng đó rộng bằng nhau
c)     Kỹ năng so sánh chiều cao của 2 vặt:
*Đặt cạnh nhau.
Đặt 2 vật đứng trên cùng một mặt phẳng. Nếu đầu trên của hai đối tượng trùng ( hoặc ngang bằng nhau ) thì hai đối tượng cao bằng nhau. Nếu không bằng nhau thì đối tượng nào có phần thừa ra thì đối tượng cao hơn.
Kỹ năng so sánh độ lớn của hai vật
*Đối với hình phẳng: Đặt chồng 2 vật lên nhau, vật nào có phần thừa ra, vật đó to hơn, vật còn lại nhỏ hơn. Nếu 2 vật chồng khít lên nhau thì 2 vật to bằng nhau.
* Độ lớn cần so sánh ở đây là thể tích ( đối với khối không gian )
Nếu là khối rỗng thì lồng 2 khối vào với nhau ).
Nếu khối đặc, đặt 2 khối cạnh nhau cho trẻ dùng mắt để ước lượng, song các đồ vật để trẻ so sánh cần có sự chênh lệch về kích thước, để trẻ dễ dàng nhận thấy.
Độ chênh lệch của các đồ dùng:
Nếu dùng cho trẻ mẫu giáo thì độ chênh lệch phải lớn, còn với trẻ mẫu giáo nhớ và lớn thì độ chênh lệch không nhiều, bắt buộc trẻ phải dùng kỹ năng so sánh để so sánh.
2.1.2 Hình thức tổ chức dạy học
Trong mỗi phần so sánh về chiều dài, chiều cao, chiều rộng đều dạy trong 2 tiết:
Tiết 1: Dạy trẻ so sánh, nhận biết sự giống và khác nhau về: chiều dài hoặc chiều rộng hoặc chiều cao của hai đối tượng. Dạy trẻ hiểu và diễn đạt được mối quan hệ này.
*Phương pháp tiến hành như sau:
Phần 1: Ôn nhận biết sự khác biệt rõ nét về kích thước của hai đối tượng.
Cô tổ chức cho trẻ hoạt động, tạo ra tình huống giúp cho trẻ phát hiện ra sự khác biệt về kích thước, sau đó cô dùng kỹ năng so sánh để kiểm tra lại kết quả mà trẻ đã phát hiện ra ( không yêu cầu trẻ kiểm tra ) .
Phần 2: dạy trẻ kỹ năng so sánh để trẻ nhận ra sự giống và khác nhau về kích thước của hai đối tượng.
Cô hướng dẫn trẻ tìm ra hai đối tượng bằng nhau trong số ba đối tượng.
Hình thành kiến thức mới: “ bằng nhau ”.
Cô dạy trẻ cách so sánh hai đối tượng bằng kỹ năng so sánh đặt cạnh nhau hoặc chồng lên nhau.
Dùng ngôn ngữ để nêu cách làm và kết quả.
Cụ thể:
Trẻ vận dụng vốn kinh nghiệm của mình để so sánh tìm ra hai đối tượng bằng nhau trong ba đối tượng
Cô chỉnh sửa kỹ năng so sánh cho trẻ qua việc cùng trẻ kiểm tra kết quả làm của trẻ. Trẻ vận dụng kỹ năng vừa được học để tìm ra các đối tượng có sự khác nhau về kích thước và diễn đạt mối quan hệ này.
Ví dụ: ( thước vàng và thước đỏ dài bằng nhau ).
Phần 3: Luyện tập
Cô tổ chức các hoạt động vui chơi, cho trẻ tìm hai đối tượng, dùng kỹ năng so sánh để kiểm tra xem hai đối tượng đó bằng nhau hay khác nhau về kích thước. Trẻ biết diễn đạt được kết quả so sánh.
Có thể tích hợp bài giảng trong các hoạt động của tạo hình. Ví dụ, cho trẻ xây những ngôi nhà cao, nhà thấp, nhà to, nhà nhỏ. Tìm hiểu thế giới xung quanh v.v…
Tiết 2: Luyện tập kỹ năng so sánh kích thước ( chiều dài hoặc chiều cao hoặc chiều rộng ) của hai đối tượng để sắp thứ tự về kích thước của ba đối tượng theo chiều tăng đần hoặc giảm dần.
Phần 1: Củng cố kỹ năng so sánh kích thước hai đối tượng.
Cho trẻ tập luyện kỹ năng so sánh hai đối tượng khác nhau về kích thước,trẻ nhận biết và diễn đạt được mối quan hệ này,
Phần 2: hình thành kiến thức mới: “ hơn nhất – kém nhất ”.
-         Cô hướng dẫn trẻ dùng kỹ năng so sánh hai đối tượng để so  sánh kích thước của ba đối tượng theo từng cặp, giúp trẻ rút ra kết luận: “ có thể một đối tượng có kích thước hơn nhất so với hai đối tượng còn lại. ( Hình thành cho trẻ biểu tượng “ hơn nhất – kém nhất – kém hơn ” ).
-         Hướng dẫn cho trẻ biết dùng ngôn ngữ để diễn đạt các mối quan hệ về kích thước từ ba đối tượng trở lên.
Ví dụ: Dạy trẻ so sánh chiều dài của ba đối tượng, sắp thứ tự chiều dài theo chiều tăng dần.
Ví dụ 2: So sánh chiều cao của ba đối tượng, sắp thứ tự chiều cao theo giảm dần.
Yêu cầu: Trẻ biết cách so sánh trực tiếp theo từng chiều của hai đến ba đối tượng ( không thông qua vật đo ) để tìm ra các kết quả “ hơn – kém” hoặc “ hơn – nhất- kém nhất ”.
·         Dùng từ để diễn đạt hoạt động so sánh và kết quả so sánh.
·         Có khả năng ứng dụng các kiến thức đã học để so sánh các vật trong môi trường xung quanh.
Ngoài giờ học: Cho trẻ tạo nên các đối tượng có kích thước khác nhau trong các hoạt động vui chơi như : Xây dựng, tạo hình, làm quen với môi trường xung quanh. Cho trẻ chơi các trò chơi : “ thi nhảy xa ” “ thi ném đá ” v.v…
Ví dụ: Cô cho trẻ làm dây xúc xích để trang trí lớp, sau đó cho trẻ so sánh chiều dài của các dây xúc xích với nhau.
+ Cho trẻ trang trí cành đào, cành mai, cây quất bằng các dây giấy màu dài ngắn khác nhau
+ kể chuyện đọc thơ , câu đố về ngày tết , mùa xuân
+ Tập gói bánh chưng, bénh  tét. Cho trẻ so sánh chiều dài của những chiếc bánh tét mà chúng vừa gói được bằng kĩ năng so sánh đặt cạnh nhau hoặc chồng lên nhau
Tóm lại, cần tạo ra một bầu không khí học tập vui vẻ nhẹ nhàng, giup trẻ nắm được các kiến thức, kỹ năng và biết vận dụng bằng chính thực tiễn cuộc sống của mình.
1.     3.     Lớp mẫu giáo lớn
Nhiệm vụ của lớp mẫu giáo lớn là cô giáo dạy trẻ cách đo lường đơn giản, giúp cho trẻ biết cách đo kích thước của một vật, hiểu được mối quan hệ giữa thước đo và chiều dài của đối tượng, biết dùng kết quả đo để so sánh chiều dài của các đối tượng.
Dạy trẻ phép đo cần làm tuần tự, rõ ràng từng thao tác khi tiến hành đo. Việc dạy trẻ đo gồm các bước:
Chọn đơn vị đo: thường chọn một đối tượng mà chiều dài lớn hơn chiều còn lại, lấy chiều dài đó làm đơn vị đo. Ví dụ như: Chiều dài que tính, chiều dài miếng gỗ hình chữ nhật v.v… nhưng khi nói với trẻ cô không nên dùng từ “ đơn vị đo ” mà chỉ cần nói: Đô chiều dài băng giấy dài bằng mấy lần chiều dài miếng gỗ:
+Dạy trẻ cách đo tuần tự theo các bước:
-         Đặt dấu trái của vật đo trùng với một đầu của vật cần do, sao cho cạnh của vật đo sát với cạnh của vật cần đo, dùng phấn vạch sát vào đầu kia của vật để  đánh dấu, nhấc vật đó lên.
-         Đặt tiếp vật đo theo chiều cần đo, sao cho đầu trái của vật đo trùng với vạch đánh dấu, đánh dấu tiếp đầu kia và tiếp tục làm cho dến khi đo hết chiều cần đo.
+Nói kết quả đo:
Để nói kết quả đo, trẻ đếm số đoạn đã được vạch trên vật cần đo. Số đoạn đếm được chính là kết quả đo. Khi nói kết quả, cần nói đủ số đo và đơn vị đo. Ví dụ: “ chiều dài băng giấy bằng sáu lần chiều dài miếng gỗ ”.
*Luyện kỹ năng đo:
- Dùng cùng một đơn vị để đo các đối tượng  có kích thước bằng nhau để trẻ nhận thấy chúng có cùng một kết quả đo như nhau ( số đo giống nhau ).
- Dùng cùng một đơn vị để đo các đối tượng có kích thước khác nhau để trẻ nhận thấy chúng có kết quả đo ( số đo ) khác nhau. Vật nào dài hơn sẽ có kết quả đo lớn hơn và ngược lại.
- Cô cho trẻ đo các vật có đội dài khác nhau, trẻ nhận thấy kết quả đo sẽ phụ thuộc vào chiều dài của thước đo. Nếu thuosc đo ngắn thì số lần đo sẽn hiều hơn. Còn nếu dùng thước đo daifh ơn thì số lần đo sẽ ít hơn.
Bên cạnh việc tiếp tục cho trẻ kỹ năng đo bằng vật cụ thể chọn làm đơn vị đo, ngoài tiết học cô cho trẻ làm quen với việc đo các đối tượng bằng các vật đo khác nhau: Ví dụ: Dạy trẻ đo bằng cách sử dụng bước chân trẻ, hoặc gang tay v.v…. làm đơn vị đo.
Cô cho trẻ làm quen với việc đo thể tích. Ví dụ: Bình màu xanh đựng được 5 ca nước, bình mau đỏ đựng được 4 ca nước v.v…
3.1. Dạy trên giờ học: Dạy trong 4 tiết
* Tiết 1: Dạy trẻ nhận biết được mục đích của phép đo. Biểu diễn độ dài của kích thước một đối tượng qua độ dài của vật chọn làm đơn vị
Chủ điểm: Tết và mùa xuân.
Phương pháp tiến hành:
Phần 1: Ôn tập so sánh chiều dài của 3 băng giấy bằng kỹ năng so sánh mà trẻ đã được học.
Trẻ so sánh tìm ra băng giấy dài nhất, băng giấy ngắn nhất.
Phần 2: Biểu diễn chiều dài băng giấy qua chiều dài hình chữ nhật.
·         Cô hướng dẫn trẻ đặt lên tiếp các hình chữ nhật lên một băng giấy, xem chiều dài băng giấy xếp kín được bao nhiêu hình chữ nhật, chọn thẻ số tương ứng với số lượng hình chữ nhật đó.
Ví dụ cô hỏi trẻ: “ chiều dài băng giấy vàng bằng mấy lần chiều dài hình chữ nhật? ”. Trẻ trả lời “ bằng 7 lần ”, trẻ chọn thẻ số 7 đặt vào cạnh băng giấy vàng.
·         Làm tương tự với các băng giấy còn lại.
·         Cho trẻ so sánh các băng giấy với nhau xem bằng nào được xếp nhiều hình chữ nhật nhất? Bằng nào được xếp ít hình chữ nhật nhất? Từ đó cho trẻ rút ra kết luận: Băng giấy nào dài nhất? Băng giấy nào ngắn nhất?
Phần 3: Luyện tập
Có thể cho trẻ thi dán dây xúc xích trang trí lớp ngày tết, hướng dẫn trẻ dán xen kẽ các băng giấy màu sắc khác nhau. Sau đó xem trẻ nào dán được dây dài nhất, trẻ nào dán được dây ngắn nhất. Có thể cho trẻ đo chiều cao của cây nêu ngày tết, đo chiều dài của bánh tét v.v….
Phương pháp tiến hành:
Phần 1: Cho trẻ chơi trò chơi: “ Thi xem ai bật xa ”. Mỗi lần 2 trẻ chơi. Khi trẻ bật xong cần đếm xem trẻ đã bật được bao nhiêu viên gạch ( đơn vị dể đo là các viên gạch lát nền ) . Phát cho trẻ một thẻ số tương ứng với kết quả mà trẻ đạt được, để cuối cùng xem trẻ nào nhảy được xa nhất.
Phần 2: Dạy trẻ thao tác đo độ dài.
Dạy trẻ thao tác đo đơn giản bằng cách đặt liên tiếp các đơn vị đo trên đối tượng đo và kết quả đo bằng số lần đặt đơn vị đo đã sử dụng.
+ Cô chọn một đối tượng làm đơn vị đo ( ví dụ: thanh gỗ , que tính ) và giới thiệu cho trẻ.
+ Cô vừa làm vừa giải thích cho trẻ cách đo : “ tay trái của cô cầm thanh gỗ, tay phải của cô cầm phấn. Cô sẽ đo chiều dài của băng giấy từ trái sang phải . Dầu tiên cô đặt chiều dài của thước đo sát với một mép chiều dài băng giấy, đầu trái của thước đo trùng với đầu trái của băng giấy, sau đó cô dùng phấn vạch một vạch sát đầu phải  của thước đo để đánh dấu lần 1. Nhấc thước, đặt đầu trái của thước trùng vạch, đánh dấu lần 2…. Làm tiếp cho đến khi đo hết băng giấy.
Cho trẻ tập do chiều dài băng giấy, cô quan sát, hướng dẫn trẻ cách đặt thước đo để đo cho chính xác.
Phần 3: Luyện tập
Cho trẻ dùng thanh gỗ làm  thước đo, đo chiều dài, chiều rộng chiều cao của một cái bàn. Cho trẻ nói kết quả. Ví dụ “ chiều cao của bàn bằng 7 lần thước đo”.
3.1.3 Tiết 3 và 4
Luyện tập kỹ năng đo để hiểu mối quan hệ giữa chiều dài đối tượng với chiều dài thước đo và kết quả đo.
-         Cô cho trẻ thực hành đo nhiều đối tượng có kích thước bằng nhau với cùng một thước đo để trẻ nhận xét các đối tượng này đều có số đo giống nhau.
-         CÔ cho trẻ thực hành đo các đối tượng có độ dài khác nhau với cùng một thước đo để trẻ nhận xét các đối tượng này có số đo khác nhau. Vật nào hơn sẽ có kết quả đo lớn hơn.
-         Cô cho trẻ thực hành đo trên cùng một đối tượng với những đơn vị đo khác nhau để trẻ nhận thấy kết quả đo khác nhau. Như vậy kết quả đo phụ thuộc vào việc chọn đơn vị đo.
Cho trẻ thực hành đo trong các hoạt động hàng ngày, cho trẻ thực hành đo với các thước đo khác nhau như bước chân, gang tay v.v…thực hành đo chiều cao của bạn, chiều cao của cây, gắn nội dung giảng dạy với chủ điểm tết và mùa xuân. Cô có thể cho trẻ làm quen với việc đo thể tích, ví dụ dùng một cái ca đong nước đổ vào 2 bình, sau đó cho trẻ dựa trên kết quả đẻ so sánh độ lớn ( thể tích ) của 2 bình.


Bài viết: Xong rồi e. oke nhé 

Nguồn Zing BlogPHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN TRẺ MẦM NON HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC
1.     1.     Lớp mẫu giáo bé
1.1  Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt rõ nét về: Chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớn của 2 đối tượng
Trẻ biết sử dụng đúng từ “ Dài hơn, ngắn hơn ”; “ Cao hơn – thấp hơn ” “ To hơn –nhỏ hơn ”
Để chuẩn bị cho giờ học đạt kết quả, trước đó trong sinh hoạt hàng ngày cô giáo cần cho trẻ được làm quen với các đồ vật có kích thước khác nhau. Ví dụ, con gấu to hơn con thỏ, bạn này cao hơn bạn kia, dây nơ này dài hơn dây nơ kia v.v…
Trong các giờ học dạy trẻ nhận biết bằng trực giác sự khác biệt theo từng chiều ( dài – rộng  - cao ) giữa 2 đối tượng dược tiến hành theo trình tự sau:
·         Tạo các tình huống có vấn đề, để trẻ có cơ hội tiếp xúc và so sánh kích thước của hai đối tượng
Ví dụ: Khi dạy trẻ so sánh chiều dài của hai đối tượng, cô dùng hai sợi dây: dây xanh không buộc vừa cổ tay cháu, dây hồng buộc vừa cổ tay cháu.
·         Cô đặt câu hỏi nhằm hướng sự chú ý của trẻ vào “ kích thước ” cần so sánh của vật.
Ví dụ: Vì sao dây xanh không buộc vừa  cổ tay cháu còn dây hồng buộc vừa cổ tay cháu ? Trẻ phát hiện ra vì dây xanh ngắn hơn còn dây hồng dài hơn.
·         Cô so sánh các kích thước của vật cho trẻ xem bằng kỹ năng so sánh và dựa trên vật thật:
Ví dụ: Cô cầm 2 sợi dây sao cho một đầu trùng nhau, lấy tay vuốt thẳng. Cô chỉ cho trẻ thấy dây hồng có phần thừa ra nên dài hơn.
·         Cô yêu cầu trẻ diễn đạt sự khác  biệt về kích thước đó bằng lời.
Ví dụ: Cho trẻ làm quen với các từ dài hơn – ngắn hơn ( Dây hồng dài hơn, dây xanh ngắn hơn ) v.v..,
·         Cô luyện cho trẻ biết sử dụng ngôn ngữ biểu thị kích thước và so sánh kích thước, sửa cho trẻ biết dùng đúng các từ chỉ sự khác biệt về kích thước như to hơn – nhỏ hơn, cao hơn thấp hơn , dài hơn – ngắn hơn, rộng hơn  - hẹp hơn v.v..
Yêu cầu:
Trẻ so sánh được sự khác nhau về kích thước của hai đối tượng với sự chênh lệch lớn bằng thị giác.
Sử dụng đúng các từ: “ dài hơn – ngắn hơn ”, “ rộng hơn – hẹp hơn ”, “ To hơn –nhỏ hơn ” trong các tình huống cụ thể.
 Ngoài giờ học, trong các  hoạt động khác cô cho trẻ luyện tập, nhận biết sự khác biệt về kích thước và diễn đạt sự khác biệt đó. Cô cho trẻ tạo nên các đồ vật có sự khác việt về kích thước trong các hoạt động tạo hình, tìm hiểu văn học, môi trường xung quanh v.v…
1.     2.     Lớp mẫu giáo nhỡ
2.1  Dạy trên giờ học
2.1.1. Dạy trẻ kĩ năng so sánh các biểu tượng về kích thước
Dạy trẻ so sánh chiều dài, chiều rộng, chiều cao, độ lớn của 2 -3 đối tượng bằng kỹ năng so sánh đặt cạnh nhau hoặc chồng lên nhau ( hoặc lồng vào nhau ).
Một số kỹ năng so sánh kích thước của 2 vật:
a)     Kỹ năng so sánh chiều dài
*Đặt cạnh nhau:
Đặt hai vật sát cạnh nhau theo chiều dài, sao cho một đầu thẳng hàng. Đối tượng nào có phần thừa ra, đối tượng đó dài hơn, đối tượng còn lại ngắn hơn.
Các đối tượng cần có chiều rộng bằng nhau để hướng sự chú ý của trẻ vào chiều dài, để trẻ không bị chi phối bởi chiều rộng.
*Đặt chồng lên nhau:
Đặt hai vật chồng lên nhau sao cho một đầu trùng nhau, vật nào có phần thừa ra, vật đó dài hơn. Vật còn lại ngắn hơn. Nếu cả hai vật không có phần nào thừa ra thì hai vật đó dài bằng nhau.
Với các vật nhỏ, mềm như dây len, dây nơ v.v… dùng một tay túm một đầu các đối tượng và điều chỉnh cho hai đối tượng song song với nhau.
Với cả hai loại vật liệu này, sau khi để một đầu trùng nhau, kiểm tra đầu còn lại, đối tượng nào có phần thừa ra đối tượng đó dài hơn, đối tượng còn lại ngắn hơn. Nếu cả hai không có phần thừa ra thì đối tượng đó dài bằng nhau.
b)    Kỹ năng so sánh chiều rộng của 2 vật
Đặt chồng hai vật lên nhau, sao cho một mép chiều dài của hai vật được đặt trùng lên nhau. Đối tượng nào có phần thừa ra, đối tượng đó rộng hơn, đối tượng còn lại ngắn hơn. Nếu chiều rộng cả hai đối tượng không có phần thauwf ra thì hai đối tượng đó rộng bằng nhau
c)     Kỹ năng so sánh chiều cao của 2 vặt:
*Đặt cạnh nhau.
Đặt 2 vật đứng trên cùng một mặt phẳng. Nếu đầu trên của hai đối tượng trùng ( hoặc ngang bằng nhau ) thì hai đối tượng cao bằng nhau. Nếu không bằng nhau thì đối tượng nào có phần thừa ra thì đối tượng cao hơn.
Kỹ năng so sánh độ lớn của hai vật
*Đối với hình phẳng: Đặt chồng 2 vật lên nhau, vật nào có phần thừa ra, vật đó to hơn, vật còn lại nhỏ hơn. Nếu 2 vật chồng khít lên nhau thì 2 vật to bằng nhau.
* Độ lớn cần so sánh ở đây là thể tích ( đối với khối không gian )
Nếu là khối rỗng thì lồng 2 khối vào với nhau ).
Nếu khối đặc, đặt 2 khối cạnh nhau cho trẻ dùng mắt để ước lượng, song các đồ vật để trẻ so sánh cần có sự chênh lệch về kích thước, để trẻ dễ dàng nhận thấy.
Độ chênh lệch của các đồ dùng:
Nếu dùng cho trẻ mẫu giáo thì độ chênh lệch phải lớn, còn với trẻ mẫu giáo nhớ và lớn thì độ chênh lệch không nhiều, bắt buộc trẻ phải dùng kỹ năng so sánh để so sánh.
2.1.2 Hình thức tổ chức dạy học
Trong mỗi phần so sánh về chiều dài, chiều cao, chiều rộng đều dạy trong 2 tiết:
Tiết 1: Dạy trẻ so sánh, nhận biết sự giống và khác nhau về: chiều dài hoặc chiều rộng hoặc chiều cao của hai đối tượng. Dạy trẻ hiểu và diễn đạt được mối quan hệ này.
*Phương pháp tiến hành như sau:
Phần 1: Ôn nhận biết sự khác biệt rõ nét về kích thước của hai đối tượng.
Cô tổ chức cho trẻ hoạt động, tạo ra tình huống giúp cho trẻ phát hiện ra sự khác biệt về kích thước, sau đó cô dùng kỹ năng so sánh để kiểm tra lại kết quả mà trẻ đã phát hiện ra ( không yêu cầu trẻ kiểm tra ) .
Phần 2: dạy trẻ kỹ năng so sánh để trẻ nhận ra sự giống và khác nhau về kích thước của hai đối tượng.
Cô hướng dẫn trẻ tìm ra hai đối tượng bằng nhau trong số ba đối tượng.
Hình thành kiến thức mới: “ bằng nhau ”.
Cô dạy trẻ cách so sánh hai đối tượng bằng kỹ năng so sánh đặt cạnh nhau hoặc chồng lên nhau.
Dùng ngôn ngữ để nêu cách làm và kết quả.
Cụ thể:
Trẻ vận dụng vốn kinh nghiệm của mình để so sánh tìm ra hai đối tượng bằng nhau trong ba đối tượng
Cô chỉnh sửa kỹ năng so sánh cho trẻ qua việc cùng trẻ kiểm tra kết quả làm của trẻ. Trẻ vận dụng kỹ năng vừa được học để tìm ra các đối tượng có sự khác nhau về kích thước và diễn đạt mối quan hệ này.
Ví dụ: ( thước vàng và thước đỏ dài bằng nhau ).
Phần 3: Luyện tập
Cô tổ chức các hoạt động vui chơi, cho trẻ tìm hai đối tượng, dùng kỹ năng so sánh để kiểm tra xem hai đối tượng đó bằng nhau hay khác nhau về kích thước. Trẻ biết diễn đạt được kết quả so sánh.
Có thể tích hợp bài giảng trong các hoạt động của tạo hình. Ví dụ, cho trẻ xây những ngôi nhà cao, nhà thấp, nhà to, nhà nhỏ. Tìm hiểu thế giới xung quanh v.v…
Tiết 2: Luyện tập kỹ năng so sánh kích thước ( chiều dài hoặc chiều cao hoặc chiều rộng ) của hai đối tượng để sắp thứ tự về kích thước của ba đối tượng theo chiều tăng đần hoặc giảm dần.
Phần 1: Củng cố kỹ năng so sánh kích thước hai đối tượng.
Cho trẻ tập luyện kỹ năng so sánh hai đối tượng khác nhau về kích thước,trẻ nhận biết và diễn đạt được mối quan hệ này,
Phần 2: hình thành kiến thức mới: “ hơn nhất – kém nhất ”.
-         Cô hướng dẫn trẻ dùng kỹ năng so sánh hai đối tượng để so  sánh kích thước của ba đối tượng theo từng cặp, giúp trẻ rút ra kết luận: “ có thể một đối tượng có kích thước hơn nhất so với hai đối tượng còn lại. ( Hình thành cho trẻ biểu tượng “ hơn nhất – kém nhất – kém hơn ” ).
-         Hướng dẫn cho trẻ biết dùng ngôn ngữ để diễn đạt các mối quan hệ về kích thước từ ba đối tượng trở lên.
Ví dụ: Dạy trẻ so sánh chiều dài của ba đối tượng, sắp thứ tự chiều dài theo chiều tăng dần.
Ví dụ 2: So sánh chiều cao của ba đối tượng, sắp thứ tự chiều cao theo giảm dần.
Yêu cầu: Trẻ biết cách so sánh trực tiếp theo từng chiều của hai đến ba đối tượng ( không thông qua vật đo ) để tìm ra các kết quả “ hơn – kém” hoặc “ hơn – nhất- kém nhất ”.
·         Dùng từ để diễn đạt hoạt động so sánh và kết quả so sánh.
·         Có khả năng ứng dụng các kiến thức đã học để so sánh các vật trong môi trường xung quanh.
Ngoài giờ học: Cho trẻ tạo nên các đối tượng có kích thước khác nhau trong các hoạt động vui chơi như : Xây dựng, tạo hình, làm quen với môi trường xung quanh. Cho trẻ chơi các trò chơi : “ thi nhảy xa ” “ thi ném đá ” v.v…
Ví dụ: Cô cho trẻ làm dây xúc xích để trang trí lớp, sau đó cho trẻ so sánh chiều dài của các dây xúc xích với nhau.
+ Cho trẻ trang trí cành đào, cành mai, cây quất bằng các dây giấy màu dài ngắn khác nhau
+ kể chuyện đọc thơ , câu đố về ngày tết , mùa xuân
+ Tập gói bánh chưng, bénh  tét. Cho trẻ so sánh chiều dài của những chiếc bánh tét mà chúng vừa gói được bằng kĩ năng so sánh đặt cạnh nhau hoặc chồng lên nhau
Tóm lại, cần tạo ra một bầu không khí học tập vui vẻ nhẹ nhàng, giup trẻ nắm được các kiến thức, kỹ năng và biết vận dụng bằng chính thực tiễn cuộc sống của mình.
1.     3.     Lớp mẫu giáo lớn
Nhiệm vụ của lớp mẫu giáo lớn là cô giáo dạy trẻ cách đo lường đơn giản, giúp cho trẻ biết cách đo kích thước của một vật, hiểu được mối quan hệ giữa thước đo và chiều dài của đối tượng, biết dùng kết quả đo để so sánh chiều dài của các đối tượng.
Dạy trẻ phép đo cần làm tuần tự, rõ ràng từng thao tác khi tiến hành đo. Việc dạy trẻ đo gồm các bước:
Chọn đơn vị đo: thường chọn một đối tượng mà chiều dài lớn hơn chiều còn lại, lấy chiều dài đó làm đơn vị đo. Ví dụ như: Chiều dài que tính, chiều dài miếng gỗ hình chữ nhật v.v… nhưng khi nói với trẻ cô không nên dùng từ “ đơn vị đo ” mà chỉ cần nói: Đô chiều dài băng giấy dài bằng mấy lần chiều dài miếng gỗ:
+Dạy trẻ cách đo tuần tự theo các bước:
-         Đặt dấu trái của vật đo trùng với một đầu của vật cần do, sao cho cạnh của vật đo sát với cạnh của vật cần đo, dùng phấn vạch sát vào đầu kia của vật để  đánh dấu, nhấc vật đó lên.
-         Đặt tiếp vật đo theo chiều cần đo, sao cho đầu trái của vật đo trùng với vạch đánh dấu, đánh dấu tiếp đầu kia và tiếp tục làm cho dến khi đo hết chiều cần đo.
+Nói kết quả đo:
Để nói kết quả đo, trẻ đếm số đoạn đã được vạch trên vật cần đo. Số đoạn đếm được chính là kết quả đo. Khi nói kết quả, cần nói đủ số đo và đơn vị đo. Ví dụ: “ chiều dài băng giấy bằng sáu lần chiều dài miếng gỗ ”.
*Luyện kỹ năng đo:
- Dùng cùng một đơn vị để đo các đối tượng  có kích thước bằng nhau để trẻ nhận thấy chúng có cùng một kết quả đo như nhau ( số đo giống nhau ).
- Dùng cùng một đơn vị để đo các đối tượng có kích thước khác nhau để trẻ nhận thấy chúng có kết quả đo ( số đo ) khác nhau. Vật nào dài hơn sẽ có kết quả đo lớn hơn và ngược lại.
- Cô cho trẻ đo các vật có đội dài khác nhau, trẻ nhận thấy kết quả đo sẽ phụ thuộc vào chiều dài của thước đo. Nếu thuosc đo ngắn thì số lần đo sẽn hiều hơn. Còn nếu dùng thước đo daifh ơn thì số lần đo sẽ ít hơn.
Bên cạnh việc tiếp tục cho trẻ kỹ năng đo bằng vật cụ thể chọn làm đơn vị đo, ngoài tiết học cô cho trẻ làm quen với việc đo các đối tượng bằng các vật đo khác nhau: Ví dụ: Dạy trẻ đo bằng cách sử dụng bước chân trẻ, hoặc gang tay v.v…. làm đơn vị đo.
Cô cho trẻ làm quen với việc đo thể tích. Ví dụ: Bình màu xanh đựng được 5 ca nước, bình mau đỏ đựng được 4 ca nước v.v…
3.1. Dạy trên giờ học: Dạy trong 4 tiết
* Tiết 1: Dạy trẻ nhận biết được mục đích của phép đo. Biểu diễn độ dài của kích thước một đối tượng qua độ dài của vật chọn làm đơn vị
Chủ điểm: Tết và mùa xuân.
Phương pháp tiến hành:
Phần 1: Ôn tập so sánh chiều dài của 3 băng giấy bằng kỹ năng so sánh mà trẻ đã được học.
Trẻ so sánh tìm ra băng giấy dài nhất, băng giấy ngắn nhất.
Phần 2: Biểu diễn chiều dài băng giấy qua chiều dài hình chữ nhật.
·         Cô hướng dẫn trẻ đặt lên tiếp các hình chữ nhật lên một băng giấy, xem chiều dài băng giấy xếp kín được bao nhiêu hình chữ nhật, chọn thẻ số tương ứng với số lượng hình chữ nhật đó.
Ví dụ cô hỏi trẻ: “ chiều dài băng giấy vàng bằng mấy lần chiều dài hình chữ nhật? ”. Trẻ trả lời “ bằng 7 lần ”, trẻ chọn thẻ số 7 đặt vào cạnh băng giấy vàng.
·         Làm tương tự với các băng giấy còn lại.
·         Cho trẻ so sánh các băng giấy với nhau xem bằng nào được xếp nhiều hình chữ nhật nhất? Bằng nào được xếp ít hình chữ nhật nhất? Từ đó cho trẻ rút ra kết luận: Băng giấy nào dài nhất? Băng giấy nào ngắn nhất?
Phần 3: Luyện tập
Có thể cho trẻ thi dán dây xúc xích trang trí lớp ngày tết, hướng dẫn trẻ dán xen kẽ các băng giấy màu sắc khác nhau. Sau đó xem trẻ nào dán được dây dài nhất, trẻ nào dán được dây ngắn nhất. Có thể cho trẻ đo chiều cao của cây nêu ngày tết, đo chiều dài của bánh tét v.v….
Phương pháp tiến hành:
Phần 1: Cho trẻ chơi trò chơi: “ Thi xem ai bật xa ”. Mỗi lần 2 trẻ chơi. Khi trẻ bật xong cần đếm xem trẻ đã bật được bao nhiêu viên gạch ( đơn vị dể đo là các viên gạch lát nền ) . Phát cho trẻ một thẻ số tương ứng với kết quả mà trẻ đạt được, để cuối cùng xem trẻ nào nhảy được xa nhất.
Phần 2: Dạy trẻ thao tác đo độ dài.
Dạy trẻ thao tác đo đơn giản bằng cách đặt liên tiếp các đơn vị đo trên đối tượng đo và kết quả đo bằng số lần đặt đơn vị đo đã sử dụng.
+ Cô chọn một đối tượng làm đơn vị đo ( ví dụ: thanh gỗ , que tính ) và giới thiệu cho trẻ.
+ Cô vừa làm vừa giải thích cho trẻ cách đo : “ tay trái của cô cầm thanh gỗ, tay phải của cô cầm phấn. Cô sẽ đo chiều dài của băng giấy từ trái sang phải . Dầu tiên cô đặt chiều dài của thước đo sát với một mép chiều dài băng giấy, đầu trái của thước đo trùng với đầu trái của băng giấy, sau đó cô dùng phấn vạch một vạch sát đầu phải  của thước đo để đánh dấu lần 1. Nhấc thước, đặt đầu trái của thước trùng vạch, đánh dấu lần 2…. Làm tiếp cho đến khi đo hết băng giấy.
Cho trẻ tập do chiều dài băng giấy, cô quan sát, hướng dẫn trẻ cách đặt thước đo để đo cho chính xác.
Phần 3: Luyện tập
Cho trẻ dùng thanh gỗ làm  thước đo, đo chiều dài, chiều rộng chiều cao của một cái bàn. Cho trẻ nói kết quả. Ví dụ “ chiều cao của bàn bằng 7 lần thước đo”.
3.1.3 Tiết 3 và 4
Luyện tập kỹ năng đo để hiểu mối quan hệ giữa chiều dài đối tượng với chiều dài thước đo và kết quả đo.
-         Cô cho trẻ thực hành đo nhiều đối tượng có kích thước bằng nhau với cùng một thước đo để trẻ nhận xét các đối tượng này đều có số đo giống nhau.
-         CÔ cho trẻ thực hành đo các đối tượng có độ dài khác nhau với cùng một thước đo để trẻ nhận xét các đối tượng này có số đo khác nhau. Vật nào hơn sẽ có kết quả đo lớn hơn.
-         Cô cho trẻ thực hành đo trên cùng một đối tượng với những đơn vị đo khác nhau để trẻ nhận thấy kết quả đo khác nhau. Như vậy kết quả đo phụ thuộc vào việc chọn đơn vị đo.
Cho trẻ thực hành đo trong các hoạt động hàng ngày, cho trẻ thực hành đo với các thước đo khác nhau như bước chân, gang tay v.v…thực hành đo chiều cao của bạn, chiều cao của cây, gắn nội dung giảng dạy với chủ điểm tết và mùa xuân. Cô có thể cho trẻ làm quen với việc đo thể tích, ví dụ dùng một cái ca đong nước đổ vào 2 bình, sau đó cho trẻ dựa trên kết quả đẻ so sánh độ lớn ( thể tích ) của 2 bình.



Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Hà

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Văn bản mới

20/KH-MNDD

KẾ HOẠCH PHÒNG BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CORONA

Thời gian đăng: 31/01/2020

lượt xem: 15 | lượt tải:0

6547/QĐ-UBND

QĐ ban hành danh mục TTHC thuộc trách nhiệm giải quyết của Sở GDĐT và UBND Huyện

Thời gian đăng: 19/12/2018

lượt xem: 164 | lượt tải:44

Thông tư 26 chuẩn GVMN

Thông tu 26 chuẩn GV MN

Thời gian đăng: 14/12/2018

lượt xem: 166 | lượt tải:0

930_BGDĐT-GDTC

Hướng dẫn thực hiện công tác y tế trường học

Thời gian đăng: 31/03/2018

lượt xem: 185 | lượt tải:50
Quảng cáo 2
Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Website. Bạn biết trang của chúng tôi qua:

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây